HỘI LƯƠNG THỰC THỰC PHẨM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Food and Foodstuff Association of Ho Chi Minh City

Thứ Hai, 14/10/2019 - 01:17

Lịch sử hình thành

Hội Lương Thực Thực Phẩm TP.HCM được thành lập vào ngày 03/01/1998 với sự cho phép của Ủy Ban Nhân Dân TPHCM. Hội là một tổ chức phi Chính phủ, đại diện cho các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh - chế biến lương thực, thực phẩm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (với hơn 50% số lượng thành viên làm việc trong lĩnh vực thực phẩm như nước chấm - gia vị, thủy hải sản, nông sản, nước giải khát - thức uống, bánh kẹo, v.v…).

Trải qua hơn 19 năm thành lập và hoạt động, Hội đã tổ chức, triển khai thành công các hoạt động hợp tác với các cơ quan tổ chức nhà nước, các chuyên gia kinh tế và kỹ thuật, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước nhằm mục tiêu đầu tư công sức và trí tuệ vào các hoạt động phát triển ngành lương thực - thực phẩm, phù hợp với lợi ích của ngành, của doanh nghiệp hội viên và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung.

 

 

Quá trình phát triển

Với hơn 200 hội viên chính thức và hơn 1000 hội viên liên kết, Hội Lương thực Thực phẩm Tp.HCM ngày càng lớn mạnh về quy mô hội viên và phạm vi hoạt động. Các chương trình hoạt động tạo dựng giá trị lợi ích cho hội viên ngày càng được mở rộng và chất lượng hơn. Trong nhiều năm qua, Hội đã thu hút nhiều doanh nghiệp có quy mô lớn trong hoạt động kinh doanh tham gia làm Hội viên như Công ty Vissan, Công ty Cholimex, Công ty Cầu Tre, Công ty Sài Gòn Food, Công ty Bidrico, Công ty ABC Bakery, Công ty Satra, Công ty Kinh Đô … Hội viên Hội LTTP luôn có nhiều cơ hội hợp tác, gặp gỡ với các lãnh đạo cơ quan tổ chức nhà nước, lãnh đạo các doanh nghiệp tiềm năng, các tổ chức thương mại quốc tế thông qua các hoạt động quan hệ của Hội LTTP. Bên cạnh đó, Hội LTTP luôn tích cực triển khai các hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các Hội viên theo quy định của pháp luật và luôn ưu đãi các Hội viên khi tham gia các hoạt động, các khóa đào tạo do Hội LTTP tổ chức và tài trợ.

          

 

Hoạt động của Hội 

 

 

 ỦY BAN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHỈA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐIỀU LỆ (SỬA ĐỔI) TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

HỘI LƯƠNG THỰC – THỰC PHẨM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

(Ban hành kèm theo Quyết định số: 1136/QĐ-UB ngày 27/03/2003

của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh)

CHƯƠNG I

TÊN GỌI – TÔN CHỈ - MỤC ĐÍCH

Điều 1.

  • Hội lấy tên là: Hội Lương thực – Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh.
  • Tên giao dịch: FOOD AND FOODSTUFF ASSOCIATION – HCMC
  • Viết tắt là: FFA
  • Biểu tượng (logo) của Hội: Hình tròn nền trắng, vòng ngoài hàng chữ ghi: Hội Lương thực – Thực phẩm Food and Foodstuff Association, nền đỏ chữ in trắng; ở giữa có chữ FFA màu đỏ và hình con gà màu vàng cam, con cá màu xanh lục, hai bên hai chùm bông lúa màu vàng cam (đã đăng ký quyền tác giả theo Quyết định số 260/2002/QTG ngày 07/5/2002 của Bộ Văn hóa – Thông tin).

Điều 2. – Hội Lương thực – Thực phẩm là tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nguyện của các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế, bao gồm các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh sản phẩm lương thực, thực phẩm công nghệ, chế biến nông sản, thủy hải sản, rượu, bia, nước giải khát… (gọi tắt là lương thực-thực phẩm) và các nhà quản lý, các nhà khoa học, chuyên viên kỹ thuật trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Điều 3. – Hội Lương thực – Thực phẩm là tổ chức thành viên của Hiệp hội Công Thương thành phố. Hội hoạt động tuân thủ theo pháp luật, theo điều lệ Hội và chịu sự quản lý Nhà nước của Sở Thương mại thành phố. Hội có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng và mở tài khoản tại Ngân hàng.

            Trụ sở của Hội đặt tại:

            Số 9 Quang Trung, phường 11, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

            Điện thoại/Fax: (84.4) 996 6797

            E-mail: ffa-hcmc@hcm.vnn.vn

            Website: www.ffa.hcmcity.com

Điều 4. – Mục đích của Hội Lương thực – Thực phẩm là tập hợp, vận động trên nguyên tắc tự nguyện các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế sản xuất – kinh doanh lương thực, thực phẩm, các nhà khoa học, các nhà quản lý, các chuyên viên kỹ thuật đầu tư công sức và trí tuệ vào việc phát triển ngành lương thực – thực phẩm theo đúng chủ trương, luật pháp của Nhà nước, phù hợp với lợi ích của ngành, của doanh nghiệp hội viên và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và cả nước.

CHƯƠNG II

NHIỆM VỤ - QUYỀN HẠN

Điều 5. – Hội có các nhiệm vụ như sau:

5.1 – Tìm hiểu các tâm tư, nguyện vọng chính đáng của hội viên để đề đạt, tư vấn, kiến nghị với chính quyền thành phố và Chính phủ về những chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy ngành lương thực – thực phẩm thành phố không ngừng phát triển.

5.2 – Thường xuyên phối hợp với các đơn vị chức năng tổ chức các dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp về: đào tạo ngắn hạn, hội thảo chuyên đề (trừ hội thảo có nước ngoài tham gia phải được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân thành phố), xúc tiến thương mại, đầu tư, cung cấp thông tin pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, thị trường, quản lý, khoa học công nghệ theo nhu cầu của doanh nghiệp và yêu cầu đòi hỏi của tình hình kinh tế đất nước.

Điều 6. – Hội có các quyền hạn như sau:

6.1 – Được quan hệ, đàm phán, hợp tác các đối tác trong và ngoài nước theo quy định của Nhà nước, nhằm phát huy mọi khả năng và tiềm lực để ổn định và phát triển sản xuất – kinh doanh, không ngừng nâng cao năng lực, chất lượng và hiệu quả kinh tế, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, phục vụ sức khỏe con người.

6.2 – Được Chính quyền và các ngành quản lý chức năng giao thực hiện một số dịch vụ công khi Hội có đủ các điều kiện theo quy định.

CHƯƠNG III

HỘI VIÊN

Điều 7. – Các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức kinh tế tán thành Điều lệ Hội và tự nguyện làm đơn xin gia nhập, được Ban Thường vụ của Hội chấp nhận đều có thể trở thành hội viên chính thức của Hội.

Điều 8. – Hội viên chính thức của Hội bao gồm Hội viên áp dụng và Hội viên tham dự:

-Hội viên áp dụng là Giám đốc (hoặc chủ cơ sở hay người đại diện hợp pháp) các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân thuộc nhiều thành phần kinh tế.

-Hội viên tham dự là những cá nhân: các nhà quản lý, chuyên viên kỹ thuật, các nhà khoa học có công đóng góp vào việc thành lập và phát triển Hội.

Điều 9. – Khi Ban Thường vụ Hội chấp nhận đơn xin gia nhập, Ban Thường vụ sẽ thông báo cho doanh nghiệp nộp lệ phí gia nhập và hội phí. Mức đóng lệ phí và hội phí do Ban Chấp hành quy định. Chưa được coi là hội viên khi chưa nộp đủ lệ phí và hội phí theo quy định.

Điều 10. – Tư cách hội viên đương nhiên không còn nếu xảy ra một trong những trường hợp sau:

-Doanh nghiệp bị đình chỉ hoạt động, bị giải thể hay bị tuyên bố phá sản.

-Theo quyết định của Ban Chấp hành với sự nhất trí của hơn ½ số thành viên của Ban Chấp hành, do một trong những lý do sau:

a)Hoạt động trái với pháp luật Việt Nam,

b)Không thực hiện đúng hoặc vi phạm nghiêm trọng những quy định, Nghị quyết của Ban Chấp hành.

c)Hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích của Hội gây tổn hại đến uy tín hoặc tài chính của Hội.

d)Không đóng đủ hội phí và không sinh hoạt Hội trong vòng một năm.

Điều 11. – Hội viên có các quyền:

1-Ứng cử, đề cử và bầu cử người vào Ban Chấp hành và các chức vụ khác của Hội, Hiệp hội Công thương, và các cơ quan dân cử của thành phố theo phân quyền.

2-Tham gia thảo luận, biểu quyết các văn kiện, Nghị quyết của Hội, được phê bình, chất vấn Ban Chấp hành, Ban Thường vụ về mọi chủ trương và hoạt động của Hội.

3-Được kiến nghị và đề đạt nguyện vọng của mình đến các cơ quan Đảng, Chính quyền, Đoàn thể, xem giải quyết những yêu cầu của mình thông qua Hội.

4-Được cấp thẻ hội viên tham gia sinh hoạt trong các tổ chức của Hội và Hiệp Hội Công thương thành phố. Được hưởng các chế độ ưu đãi khi sử dụng các loại dịch vụ do Hội cung cấp.

5-Được quyền xin ra Hội khi xét thấy không thể hoặc không muốn tiếp tục tham gia. Trong trường hợp này, hội viên cần thông báo chính thức bằng văn bản trước một tháng cho Ban Chấp hành.

Điều 12. – Hội viên có những nghĩa vụ sau:

1.Sinh hoạt đều đặn, đầy đủ các buổi họp thường kỳ và bất thường của Hội. Đóng hội phí theo quy định của Hội và các quỹ đóng góp cho các công tác xã hội, từ thiện do Hội và chính quyền, Đoàn thể của thành phố tổ chức,

2.Tuân thủ các điều khoản trong Bản Điều lệ của Hội và những Nghị quyết của Đại hội, của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ của Hội.

3.Cung cấp những thông tin, số liệu cần thiết phục vụ cho hoạt động của Hội.

4.Đoàn kết và hợp tác với các hội viên khác để cùng nhau thực hiện mục tiêu của Hội, góp phần xây dựng Hội ngày càng vững mạnh.

CHƯƠNG IV

TỔ CHỨC – QUẢN LÝ

Điều 13. – Hội chỉ tổ chức ở cấp thành phố, không tổ chức ở cấp quận-huyện.

Điều 14. – Đại hội toàn thể Hội viên hoặc Đại hội đại biểu hội viên (gọi tắt là Đại hội) là tổ chức lãnh đạo cao nhất của Hội. Có 2 loại Đại hội: Đại hội thường kỳ và Đại hội bất thường.

Điều 15. – Đại hội bầu ra cơ quan lãnh đạo, quản lý, điều hành Hội gồm:

1.Ban Chấp hành

2.Ban Kiểm tra.

Số lượng Ủy viên Ban Chấp hành do Đại hội quyết định, nhưng không quá 1/3 tổng số hội viên.

Điều 16. – Đại hội nhiệm kỳ 5 năm một lần do Ban Chấp hành triệu tập với mục đích:

-Thông qua báo cáo hoạt động của Hội trong nhiệm kỳ qua

-Thông qua báo cáo tài chính và bảng tổng kết tài sản của Hội.

-Quyết định sửa đổi hoặc bổ sung Điều lệ của Hội (nếu có yêu cầu).

-Thảo luận và quyết định một số vấn đề quan trọng của Hội vượt quá thẩm quyền giải quyết của Ban Chấp hành.

-Bầu Ban Chấp hành và Ban Kiểm tra Hội.

Điều 17. – Đại hội bất thường có thể được triệu tập bất kỳ thời gian nào theo quyết định của Ban Chấp hành hoặc theo đề nghị của hơn 1/2 số hội viên để giải quyết những vấn đề về tổ chức và hoạt động của Hội  mà vượt quá thẩm quyền giải quyết của Ban Chấp hành.

Điều 18. – Cơ quan triệu tập Đại hội phải công bố chương trình nghị sự của Đại hội và phải gửi thư mời cho hội viên ít nhất là 10 ngày trước ngày dự định họp.

Những Nghị quyết của Đại hội được lấy biểu quyết theo đa số hội viên, hoặc đại biểu hội viên có mặt.

Riêng đối với những vấn đề đặc biệt quan trọng sau đây thì phải lấy biểu quyết của 1/2 số hội viên, hoặc đại biểu hội viên có mặt:

a) Sửa đổi hoặc bổ sung Điều lệ

b) Bãi miễn hoặc bổ sung một số thành viên trong Ban Chấp hành, Ban Kiểm tra

c) Giải thể và thanh lý tài sản của Hội

Trong trường hợp Đại hội lần đầu không đạt túc số quy định thì sau đó 15 ngày triệu tập lần thứ hai, và lần này vấn đề túc số hiện diện sẽ không đặt ra.

Điều 19. – Ban Chấp hành lãnh đạo, điều hành mọi hoạt động của Hội trong thời gian giữa hai kỳ Đại hội.

Ban Chấp hành có quyền bầu bổ sung Ủy viên Ban Chấp hành khi số lượng Ủy viên bị khiếm khuyết so với quy định, và có quyền miễn nhiệm tư cách Ủy viên Ban Chấp hành khi có hơn ½ Ủy viên Ban Chấp hành đề nghị hoặc theo đề nghị của hơn ½ số hội viên việc bầu bổ sung hay miễn nhiệm này chỉ có hiệu lực sau khi đã được Ủy ban nhân dân thành phố công nhận, phê chuẩn.

Điều 20. – Ban Chấp hành có những nhiệm vụ sau:

  • Cụ thể hóa các Nghị quyết của Đại hội và đề ra những biện pháp khả thi để thực hiện Nghị quyết của Đại hội.
  • Phê duyệt chương trình công tác và ngân quỹ hằng năm của Hội, xem xét và quyết định lệ phí gia nhập Hội và hội phí hằng tháng của hội viên.
  • Quyết định cơ cấu tổ chức bộ máy của Hội.
  • Giám sát công việc của Ban Thường vụ và các tổ chức trực thuộc.
  • Chuẩn bị nội dung cho các kỳ Đại hội, triệu tập Đại hội thường kỳ và bất thường.
  • Bầu Ban Thường vụ của Hội.
  • Xét kết nạp, khai trừ hội viên.

Điều 21. – Ban Chấp hành họp thường kỳ 3 tháng một lần để sơ kết tình hình hoạt động của Hội, kiểm điểm công tác của Ban Thường vụ, quyết định các vấn đề do Ban Thường vụ đề ra. Ban Chấp hành có thể họp đột xuất khi có yêu cầu.

Các quyết định của Ban Chấp hành được lấy biểu quyết theo đa số thành viên có mặt. Trong trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định thuộc về ý kiến của Chủ tịch Hội.

Mỗi năm, Ban Chấp hành tổ chức Hội nghị tổng kết công tác trong năm và đề ra Chương trình công tác trong năm tới trên cơ sở Nghị quyết của Đại hội và bầu bổ sung Ban Chấp hành nếu có yêu cầu.

Điều 22. – Ban Chấp hành bầu ra Ban Thường vụ gồm: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký chuyên trách và một số Ủy viên thường vụ để điều hành mọi hoạt động của Hội.

Số lượng ủy viên Ban Thường vụ không quá 1/3 số lượng Ủy viên Ban Chấp hành.

Điều 23. – Ban Thường vụ là cơ quan thường trực của Ban Chấp hành có nhiệm vụ:

  • Tổ chức thực hiện những công việc của Đại hội và của Ban Chấp hành đề ra.
  • Xây dựng và điều hành các tiểu ban công tác lập ra.
  • Liên hệ với các cơ quan quản lý Nhà nước và các ngành chức năng có liên quan về những vấn đề trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của Hội.

Ban Thường vụ họp thường kỳ ít nhất mỗi tháng một lần để kiểm điểm công tác và bàn biện pháp kế hoạch thực hiện các Nghị quyết, quyết định của Ban Chấp hành, chuẩn bị các vấn đề đưa ra hội nghị Ban Chấp hành để thảo luận và biểu quyết.

Các quyết định của Ban Thường vụ phải được đa số ủy viên Ban Thường vụ nhất trí thông qua.

Điều 24. – Ban Kiểm tra do Đại hội bầu ra, không thuộc cơ cấu trong Ban Chấp hành, gồm 3 thành viên, cùng nhiệm kỳ với Ban Chấp hành.

Ban Kiểm tra bầu ra Trưởng Ban để điều hành công việc của Ban, có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động của Hội về các mặt thi hành các Điều lệ, thực hiện các Nghị quyết của Đại hội và Ban Chấp hành, thu chi về tài chính và làm báo cáo trình ra Đại hội.

Ban Kiểm tra được mời dự các cuộc họp của Ban Chấp hành, nhưng không có quyền biểu quyết.

Điều 25. – Văn phòng Hội được Ban Chấp hành thành lập để thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ, do Tổng thư ký chuyên trách trực tiếp phụ trách. Bộ máy tổ chức, nhiệm vụ và quy chế làm việc của Văn phòng Hội do Ban Chấp hành quyết định tùy theo yêu cầu công việc của Hội.

CHƯƠNG V

CÁC MỐI QUAN HỆ

Điều 26. – Hội đặt các mối quan hệ thường xuyên với các cơ quan quản lý Nhà nước và các ngành chức năng có liên quan để nắm bắt chủ trương, luật pháp trong việc phát triển các ngành lương thực – thực phẩm, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ để thực hiện tốt các nhiệm vụ của Hội.

Điều 27. – Hội có nhiệm vụ thực hiện các công tác do Hiệp hội Công thương thành phố giao và đề xuất những vấn đề của Hội cần được quan tâm.

Điều 28. – Liên hệ với các Hội ngành nghề trong hệ thống của Hiệp hội Công thương để trao đổi, học tập kinh nghiệm trong việc tổ chức, tập hợp hội viên, phát triển ngành nghề.

CHƯƠNG VI

TÀI CHÍNH – TÀI SẢN CỦA HỘI

Điều 29. – Hội có tài chính riêng và hoạt động tự chủ. Tài chính của Hội gồm có:

  • Lệ phí gia nhập và Hội phí do hội viên đóng.
  • Sự ủng hộ tự nguyện của hội viên.
  • Các khoản thu qua các tổ chức dịch vụ của Hội được thành lập theo quyết định của Nhà nước.
  • Các khoản thu của Hội qua các hoạt động của Nhà nước cho phép.
  • Các khoản ủng hộ hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước

Điều 30. – Tài chính của Hội được sử dụng vào những việc:

  • Trả lương cho nhân viên làm việc thường xuyên của Hội, bồi dưỡng cộng tác viên có đóng góp công sức cho Hội.
  • Chi phí thuê mướn (bảo trì) nhà cửa, điện nước văn phòng phẩm, các chi phí hành chính, mua sắm phương tiện làm việc của Hội.
  • Giao tế và đóng góp các công tác xã hội – từ thiện.

Điều 31. – Tài chính và tài sản của Hội được sử dụng đúng mục đích theo yêu cầu của Hội, có sổ sách kế toán thu chi theo đúng luật định và phải thông qua Ban Chấp hành báo cáo công khai trước Hội nghị thường kỳ và Đại hội nhiệm kỳ.

CHƯƠNG VII

HIỆU LỰC VÀ SỬA ĐỔI ĐIỀU LỆ

Điều 32. – Điều lệ này có hiệu lực sau khi được Đại hội thông qua và được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt ban hành.

Điều 33. – Chỉ có Đại hội toàn thể hội viên hoặc Đại hội đại biểu hội viên mới được quyền sửa đổi bổ sung Điều lệ với 2/3 số đại biểu dự Đại hội tán thành và được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt mới có giá trị thi hành./.

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ

BAN THƯỜNG VỤ
Bà Lý Kim Chi

Chủ tịch

Tổng Giám đốc - Công ty TNHH TM & XD Nam Long

Ông Trương Tiến Dũng

Phó chủ tịch TT

Tổng Giám đốc - Công ty CP Kinh Doanh Thủy Hải Sản Sài Gòn (APT)

Bà Lê Thị Thanh Lâm

Phó chủ tịch

Phó Tổng Giám đốc - Công ty CP Sài Gòn Food

Ông Lê Minh Hải

Phó chủ tịch

Phó Trưởng ban - Ban Quản lý An toàn Thực phẩm Tp.HCM

Ông Nguyễn Ngọc An

Phó chủ tịch

Tổng Giám đốc - Công ty CP Việt Nam Kỹ Nghệ Súc Sản (Vissan)

Ông Nguyễn Đặng Hiến

Phó chủ tịch

Tổng Giám đốc - Công ty TNHH SX & TM Tân Quang Minh (Bidrico)

Ông Nguyễn Phúc Khoa

Phó chủ tịch

Phó Tổng Giám đốc - Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (Satra)

Ông Kao Siêu Lực

Phó chủ tịch

Giám đốc - DNTN Bánh kẹo Á Châu (ABC Bakery)

Ông Đồng Sĩ Trung

Ủy viên

Chủ tịch HĐQT - Công ty CP Xây dựng Công nghệ Sumimoto

Ông Võ Quang Vinh

Ủy viên

Phó Tổng Giám đốc - Công ty Cổ phần Thực phẩm CJ Cầu Tre

Ông Trương Thanh Sơn

Ủy viên

Phó Giám đốc Phụ trách - Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3

BAN CHẤP HÀNH
Bà Dương Xuân Hồng

Ủy viên

Tổng Giám đốc - Công ty Cổ phần Hưng Long Ocean

Ông Trịnh Anh Tuấn

Ủy viên

Giám đốc - Công ty cổ phần Thủy Lâm Ngân

Bà Trần Thị Mỹ Vân

Ủy viên

Giám đốc khối HCNS - Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam

Bà Huỳnh Kim Chi

Ủy viên

Tổng Giám đốc - Công ty Liên doanh Bột Quốc tế

Ông Trương Phú Chiến

Ủy viên

Tổng Giám đốc - Công ty Cổ phần Bibica

Ông Diệp Nam Hải

Ủy viên

Tổng Giám đốc - Công ty Cổ phần Thực phẩm Cholimex

Ông Đặng Thành Điểm

Ủy viên

Giám đốc - Công ty TNHH Sản xuất Kinh doanh Nước mắm Hưng Thịnh

Ông Đàm Văn Hoạt

Ủy viên

Tổng Giám đốc - Công ty TNHH Thương mại Sản xuất Trại Việt

Ông Châu Thịnh Lân

Ủy viên

Giám đốc - Xí nghiệp Liên doanh Vianco

Ông Đinh Viết Thuận

Ủy viên

Giám đốc Chi nhánh - Công ty TNHH Nhà nước MTV Yến sào Khánh Hòa

Bà Phạm Thị Ngọc Hà

Ủy viên

Giám Đốc - Công ty TNHH San Hà

Ông Nguyễn Thi

Ủy viên

Giám Đốc - Công ty TNHH Thương mại Sản xuất Dịch vụ Toàn Hóa

Ông Trần Chí Căn

Ủy viên

Giám đốc - Doanh nghiệp tư nhân Vina Phát

Bà Phạm Thị Huân

Ủy viên

Giám đốc - Công ty Cổ phần Ba Huân

Bà Nguyễn Thị Ngọ

Ủy viên

Giám đốc - Công ty TNHH Thương mại Hoàng Lê

Bà Bùi Phương Mai

Ủy viên

Tổng Giám đốc - Công ty CP Kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam (Vifon)

BAN KIỂM TRA
Ông Nguyễn Quốc Hùng

Trưởng ban kiểm tra

Phó Giám đốc - Công ty TNHH Chế biến Thực phẩm Hạnh Phúc

Bà Nguyễn Thị Mùi

Ủy viên

Giám đốc - Công ty TNHH MTV và Sản xuất Thương mại Hải Vinh

Ông Trần Hữu Hiền

Ủy viên

Giám đốc - Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Bảy Hồng Hạnh